Người tình
Babayaga
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Tập 2 - Chàng thủy thủ

9. Chiếc giày vải

Độ dài: 3,452 từ - Lần cuối: - Bình luận: 0

Chiếc giày vải, màu trắng ngà, trên mặt có thắt nơ, quai giày đính nút hoa hồng đỏ.

Chiếc giày vải, giờ đã ố vàng, bong đế. Thời gian phủ lên lớp bụi dày, những cơn mưa đem theo mùi ẩm mốc.

Chiếc giày vải nằm đó, cô độc, trơ trọi bên trong cỗ quan tài. Ngày qua ngày, tháng nối tháng, lặng lẽ mười ba năm, chờ đợi sự giả dối bị bóc trần.

Hai giờ chiều, những dải nắng đầu tiên sau mấy ngày bão cuối cùng cũng chịu xuất hiện. Chiếc Cadillac màu vàng rơm của gia đình White đang trên đường tiến vào thành phố, điểm hẹn là phòng khám của ngài Pettersson ở trung tâm quận Tây.

Chàng tài xế Jacobs lén nhìn kính chiếu hậu. Bà Doris ngồi khoanh tay với vẻ mặt nghiêm nghị, bên phải là Lea, đang trong tình trạng hậu say xỉn. Mỗi người một điệu bộ, ngồi chung xe mà như tách biệt ở hai thế giới. Từ sau cú đấm vỡ mũi, Jacobs luôn cảnh giác mỗi khi bên cạnh Lea và cho tới sáng nay, nỗi khiếp sợ của cậu chỉ có tăng chứ không giảm được chút nào.

Hằng ngày, trừ những hôm nghỉ, Jacobs đều có thói quen thức dậy sớm để lau chùi xe cộ. Khi bước ra khỏi phòng - khu vực giành cho nô bộc trong dinh thự, đập ngay vào mắt cậu là bộ dạng nằm sấp mặt của Lea. Cô vắt người trên những bậc thang hướng lên tầng một, tư thế chân co chân duỗi trông chả khác nào thằn lằn chết khô, tay phải còn khư khư chai vang thượng hạng đã rỗng tuếch. Jacobs toan gọi cho quản gia Wagner thì vừa hay Sante từ cửa hậu bước vào. Trước cảnh tượng không thể xấu hổ hơn, Sante lao đến lật ngửa Lea, lấy lưng làm điểm tựa, rất nhanh chóng cậu đã cõng được cô nàng trở lại tầng một.

Và bà Doris đứng đấy, im lặng, đưa đôi mắt cú vọ quan sát khắp lượt. Kì này thì bà đã bắt quả tang được con sâu rượu và hai đồng bọn.

- Dừng ở đây được rồi.

Giọng nói phát từ vị trí ghế phụ, Jacobs bị phân tâm nên quên khuấy việc quá giang của Sante, tới nỗi tự thân cậu ấy phải nhắc nhở.

Cách đây hai ngày, Sante đã được Lea nhờ vả một chuyện. Kể từ thư hồi âm của Lukas vào ngày 28 tháng 8 cho đến hai hôm trước, đã mấp mé sáu ngày đằng đẳng mà Lea chưa nhận thêm lá thư nào. Cô nghĩ bụng, mọi phương tiện di chuyển đều hoạt động trở lại bình thường, nếu bắt chuyến tàu từ bờ Tây đến thị trấn Bình Minh Maui cũng hơn một ngày, Lea thật sự rất muốn tới đó để tìm gặp Lukas càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, việc ăn ngủ đi đứng của Lea không do cô tự quyết định. Dạo còn hẹn hò bí mật, Williams phải mất gần ba mươi phút điện thoại, Lea mới được phép đi cùng cậu ra bãi biển Maui vài ngày. Bởi thế, nếu lúc này Lea đột nhiên xin xỏ, lên tàu đi xa lại còn một thân một mình thì coi như cầm chắc thất bại. Đó là chưa kể phải vặn nát óc để tìm lí do và thực tình mà nói, ngay bản thân Sante cũng không hoàn toàn bị thuyết phục bởi gã Lukas nào đấy, huống chi là ông bà White. Dù sao chỉ mới là lời kể suông từ Lea, chẳng có gì làm bằng chứng ngoại trừ địa chỉ tận bờ Đông kia. Lea gợi ý muốn cả hai cùng đi nhưng Sante đã từ chối. Cậu cho rằng cách tốt nhất và dễ dàng nhất là một mình cậu lo liệu. Đến khi mọi việc đâu vào đó, Lea sẽ có cơ sở chắc chắn hơn để đến gặp Lukas một cách đàng hoàng.

Thật tréo ngoe khi mục tiêu mà Sante đang tìm kiếm chẳng đâu xa xôi. Cậu ta đang ngồi bên cạnh bà Doris, đang mải miết ngẫm nghĩ về ký ức còn sót lại từ đêm qua với cái đầu nặng chịch.

Xin khẳng định, rằng tôi chưa bao giờ uống rượu và đêm qua là lần đầu tiên.

Song, cảm giác lâng lâng, mọi thứ chao đảo, hình ảnh thì muôn hình vạn trạng, đôi lúc bị nhân đôi hay méo mó đi, tất cả đan xen một cách lộn xộn chỉ trực chờ đổ sập xuống. Cái cảm giác đó, tôi dám chắc mình đã từng trải qua ít nhất một lần rồi, có điều không thể nhớ được là lúc nào hay ở đâu.

Đúng thật là oái oăm!

Cộc! Cộc!

Ớt Chuông gõ ngón tay lên kính cửa ngay chỗ tôi ngồi, cậu ta muốn nhắn nhủ gì đấy nên ra hiệu kêu tôi ra khỏi xe.

Lột bỏ vẻ ngoài của một gã nô bộc chuyên vùi đầu vào bếp, đây là lần đầu tôi thấy Ớt Chuông tháo chỏm đuôi ngựa trên đầu xuống. Hắn có mái tóc ngang tầm vai, được chải ngược ra phía sau nhưng vẫn chừa vài cọng lưa thưa trước trán. Hắn đổi cặp khuyên tai khác, sợi dây chuyền mắc xích nằm hẳn ra bên ngoài cổ áo và cuối cùng là y phục. Hắn vận quần jean cùng áo thun đen bó sát người, khoe ra từng múi cơ bắp đáng ghen tị. Một tay móc áo khoác trên vai, tay còn lại xách theo hành lý đơn giản.

Tôi nhìn hắn bằng ánh mắt thiếu thiện cảm, chẳng qua đời tôi chỉ quẩn quanh với biển cả, không nhất thiết phải khoe mẽ, căn bản là chả cần mấy thứ ấy, tôi vẫn đẹp trai ngời ngời, không còn gì phải bàn cãi.

- Thế nào? Bảnh bao như vầy đã đúng là “đi thăm người yêu” chưa?

Ớt Chuông hỏi cái quái gì đấy mà tôi chẳng hiểu chút nào, nhưng vì lịch sự tôi vẫn trả lời.

- Phô trương!

Hắn cười đắc ý rồi đi thẳng vào vấn đề.

- Ba ngày nữa là cậu đi học lại rồi phải không?

Câu hỏi này thậm chí còn hóc búa hơn câu đầu tiên. Tôi bần thần tại chỗ chỉ vì không biết trả lời sao cho đúng, đành nhắm mắt gật bừa.

- Mình sẽ đi chừng một tuần, khi nào cần, mình sẽ gọi điện từ tám tới chín giờ tối. Cậu nhớ, đừng đi đâu lung tung hay tham gia ngoại khóa vào khoảng này nhé. Còn nếu không nhận được cuộc gọi nào cũng đừng nóng vội mà hỏng việc, cha mẹ cậu mà phát hiện ra chúng ta nói dối là coi như tàn đời cả hai.

Tuy không biết giữa Lea và Ớt Chuông đã lên kế hoạch bí mật gì nhưng trước mắt, tôi sẽ ghi nhớ lời cậu ta dặn. Điều này tốt cho Lea nên sẽ tốt cho tôi nốt.

- Vậy nhé!

Ớt Chuông tạm biệt tôi, không quên cúi đầu chào bà Doris và Jacobs. Đoạn, hắn quay lại nhìn tôi trân trân. Cuối cùng trong đoạn đối thoại này, hắn cũng lôi ra được một câu hỏi có ý nghĩa nhưng nét mặt hắn trông lạ lắm, tôi không còn thấy sự vui vẻ nào trên cái bản mặt hình ớt chuông ấy nữa.

- Lea này… Nếu mình tới bờ Đông, cậu nghĩ có thể gặp được Lukas chứ?

Tôi… Phải trả lời hắn thế nào bây giờ?

Lukas đang ở đây, tôi đang đứng trước mặt hắn đây. Nếu hắn tới bờ Đông vào lúc này, dĩ nhiên là không thể gặp được tôi rồi.

Và nếu tôi nói là không, liệu kế hoạch của Lea có bị ảnh hưởng hay chăng?

Một cơn gió nhẹ tạt qua đầu tôi rồi lướt thẳng tới chỗ Ớt Chuông. Hắn vẫn đứng đấy và chờ đợi câu trả lời.

Tôi quyết định im lặng, cơn gió khiến tôi rùng mình. Tên Ớt Chuông này, hắn ta định giữ chân tôi bao lâu đây, tay Lea đã cóng đến trắng bệch ra rồi.

- Mình sẽ tìm được Lukas Freeman bằng mọi giá.

Ớt Chuông thở dài, hắn đã chịu buông tha khi thấy tôi bắt đầu điệu nhảy bước nhỏ, tay cho vào nách. Rồi hắn cười, xua tay có ý kêu tôi quay lại xe.

Bóng hắn dần dần lẫn vào đám đông bên trong nhà ga. Lòng tôi chợt rộn lên một nỗi lo lắng. Không biết khi quay trở lại, hắn sẽ đem về câu trả lời thế nào đây.

Dù là gì đi chăng nữa, tôi vẫn mong người nghe được kết quả ấy không phải là Lea.

---------------------

Cửa hàng đá quí của Thomas White đóng cửa im lìm từ trước khi cơn bão đổ bộ cho đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại.

Phần vì tránh bão, phần vì gia đình ông vừa bị trộm hỏi thăm đêm hôm qua và giờ Thomas đâm lo đến độ không còn tâm trí để kinh doanh. Cơ mà, một cặp bình cổ, một tượng mạ vàng, bộ ấm trà đắt tiền và những khung ảnh không có giá trị trên lò sưởi lại chẳng thấm vào đâu so với khối tài sản kếch xù của gia đình White.

Quản gia Wagner trực tiếp đem rượu đến phòng làm việc cho Thomas. Sante xin nghỉ một tuần đi thăm bạn gái ở xa, một lí do hết mức bình thường nhưng lại có sức công phá phi thường đối với những nô bộc còn lại trong dinh thự.

Petra cùng một người nữa phải thay Sante làm công việc bếp núc, chợ búa. Wagner già thay Petra làm thêm những chuyện như bưng bê, phục vụ tận phòng. Công việc bổ củi chăm lò sưởi, vác phụ đồ phơi, hay cắt tỉa vườn tược cũng khiến Jacobs bở hơi tai. Đúng là chẳng ai nhận ra Sante quan trọng đến nhường nào đến khi họ bắt tay vào công việc của cậu.

“Rượu đây, thưa ngài.”

Thomas nghe giọng Wagner ngoài phòng, ông đóng vội cửa kho, đi thẳng ra chỗ quản gia và tự nhận khay rượu. Cái kho của Thomas thực chất chỉ là một hốc nhỏ âm tường gần hai mét vuông, đây là không gian riêng tư, không ai được phép động đến, kể cả bà Doris – Vợ ông.

Thomas đặt chiếc đĩa hát trở lại sau khi lau chùi cẩn thận. Dưới cùng cái hốc là chiếc hộp giấy ngả màu. Thomas nhớ lại mớ đồ dùng bị mất trộm, ông lôi chiếc hộp ra và ôn lại quá khứ. Điều Thomas lo ngại sau cuộc càn quét chả ra hồn của tên đạo chích là những bức ảnh vô giá trị của Lea. Có lẽ chẳng ai hiểu điều này rõ hơn ông bà White, vô giá trị ở đây thật sự mang nghĩa đen thuần túy, vì những bức ảnh thời thơ ấu ấy hoàn toàn giả mạo bởi chính họ.

Lea không phải là con ruột của Thomas và Doris như mọi người lầm tưởng.

Thomas đã nảy ra ý tưởng ngụy tạo điên rồ trong một lần lướt ngang buổi chụp ảnh của cặp vợ chồng khác. Ban đầu Doris không chịu vì quá sỗ sàng nhưng khi cặp vợ chồng kia thân thiện đồng ý thì bức ảnh thơ ấu đầu tiên của Lea được ra đời. Thomas cầm bức ảnh đầu tiên ấy trong tay, đứa bé sơ sinh được Doris bế vào lòng và ông đứng ngay bên trái vợ, cả ba trông như một gia đình thực thụ. Đáng tiếc bức ảnh bị sơ hở chỉ vì chiếc điện thoại đời mới bị dính khung hình.

Quá khứ của Lea là chuỗi sự kiện bất hạnh, con bé đã mất hết kí ức về nó. Thay vì truy tìm nguyên nhân đằng sau chuỗi sự kiện kia, Thomas và Doris đã bỏ lại tất cả mọi thứ, biệt xứ mà đi, bắt đầu bằng cuộc lột xác ngoạn mục.

“Đánh cắp những bức ảnh của Lea, mục đích là gì chứ?”

“Mình giả mạo chúng để che mắt thiên thạ vậy trộm một thứ giả mạo để làm gì mới được?”

“Chẳng lẽ là… kiểm tra? Muốn chứng thực sao?”

Thomas trở nên bồn chồn trong lòng. Mới hôm qua vui vẻ nhảy nhót, ông còn định suy nghĩ về dự định sinh con của vợ nhưng xét tình trạng hiện giờ, gia đình ông đang trong tầm ngắm của kẻ nào đó rồi, dường như hắn đang cố bơi móc dấu vết quá khứ đây mà.

“Là hắn ư? Là kẻ giết người ư?”

Chính là nguyên nhân của chuỗi sự kiện bất hạnh. Điều mà Thomas cố gạc phăng đi. Suy đi tính lại, ông không thể đoán ra gần đây mình đã để lộ sơ hở nào khiến bản thân bị để ý, ngoại trừ việc gây thù chuốc oán với lão Egan.

“Đúng rồi, là lão Egan. Nhưng… lão ta thì liên quan gì đến quá khứ của Lea nhỉ?”

Thomas mân mê bộ râu rậm rạp, ông vẫn chưa tìm được mối liên kết gì. Sáng nay, Thomas đã thuê người đi điều tra bến đỗ của những món đồ bị mất lẫn tay trộm to gan nhưng phải tốn thêm chút thời gian nữa mới có thể tiếp tục suy đoán. Thomas lật cuốn sổ tay nằm bên dưới đáy hộp, mở ra trang đánh dấu, viết vào đấy thông tin của Egan.

“Mac Muller” đã được khoanh vòng với chú thích “Kẻ giết người” bên cạnh một dấu chấm hỏi thật to.

“Rob Egan” vừa được khoanh vòng, cùng chung chú thích như trên. Thêm nữa, nối một đường thẳng tới ô “Mac Muller”, chú thích đường thẳng: “Mối quan hệ?”.

Thomas đóng cuốn sổ lại, khẽ thở dài, ông cần chút rượu sau khi mua việc vào người. Tốt nhất là nên thư giãn cái đã. Ông ực một hơi hết nửa ly rượu, đầu óc lang thang nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của ông và Doris, nơi mà mọi bi kịch bắt đầu, cuốn cuộc đời hai vợ chồng theo chiều hướng chẳng thể ngờ tới.

“Đã bao lâu rồi chúng ta chưa quay lại Blindforest, Doris nhỉ.”

Thomas nhủ thầm cái tên thân thương đầy luyến tiếc.

Blindforest – Một ngôi làng nhỏ nằm ở phía Nam đảo Thợ Rèn.

Pestia là một đất nước bốn bề là biển, gồm một đảo lớn chiếm tới 60% diện tích, cùng vô số đảo và quần đảo xung quanh. Pestia phân chia xứ theo góc một phần tư tương ứng bốn hướng và đảo Thợ Rèn nằm ở xứ Đông, cách bờ hơn hai trăm hải lý. Nói là đảo Thợ Rèn không phải vì nơi đây có nhiều thợ luyện kim mà trái lại, đa số đều buôn nghề giày dép. Thợ Rèn là cái tên bắt nguồn sau khi Pestia ban bố thắt chặt kiểm soát giống cây gai dầu, một loại họ hàng với chất cấm và cũng là vật liệu phổ biến tại đây để làm nên những đôi giày vải tuyệt đẹp.

Đảo Thợ Rèn có ba vịnh lớn. Một vịnh trông như đầu búa, vịnh khác lại giống con tàu hoặc cũng có thể coi là cái đe, vịnh còn lại giống y số tám và để thống nhất tên đảo, họ gọi số tám ấy là vịnh Kìm Tròn. Đôi lúc vui miệng, đám thanh niên thời nay lại đặt ra một cái tên khác ngắn gọn, đầy quyến rũ - Vịnh Bra.

Vào năm 1927, nơi này đã từng xảy ra một tấn bi kịch làm rúng động bao người. Nếu hỏi hết những ông lão bà cụ trên đảo, ắt hẳn sẽ nhận được câu trả lời rằng: "Cả nhà họ, đều chết hết.” hoặc “Ngoại trừ ông bố, chẳng ai còn sống”. Sau tất cả, cuối cùng vẫn chỉ duy nhất một cái tên trong gia đình Richard là chưa khắc trên bia mộ. Là nhà buôn đá quí tốt bụng, quí ngài Richard – Mac Richard của làng Blindforest, nằm ở phía Nam hòn đảo.

Gia đình Richard bị thảm sát trong hỏa hoạn, cả chủ lẫn tớ. Tất cả thây xác đều được người dân chôn cất tử tế tại nghĩa trang của làng, luôn có người trông coi, thi thoảng cảnh sát cũng tạt ngang. Nhưng đó là chuyện mười ba năm về trước.

Ngay lúc này, thời khắc sắp sửa chạm ngõ nửa đêm, một bóng người cậy nhờ ánh trăng để quật mồ. Quản trang nơi này chỉ vỏn vẹn ba người, thay ca liên tục nhưng cũng có nơi nằm tách biệt khỏi tai mắt bảo vệ ví như mộ của những người mất tích hoặc chết mất xác. Trong trường hợp này, kẻ lén lút kia đang đào mộ phần của một đứa bé đã chết mất xác, di vật duy nhất là chiếc giày vải đơn độc được chôn bên trong cỗ quan tài cỡ trẻ sơ sinh.

Nắp hòm mở ra, hắn cầm chiếc giày lên, cẩn thận bật đèn pin và quan sát thật kĩ. Giày tuy cũ nhưng không phát hiện nhiều dấu vết đã qua sử dụng. “Clair’s” có vẻ là tên cửa hàng được may phía trên phần gót giày. Đắn đo cả phút, hắn quyết định mượn tạm chiếc giày ra khỏi nghĩa trang, trước lúc đi vẫn không quên đắp lại phần mộ như ban đầu.

Tiếng chuông kêu lên leng keng khi Sante đẩy cửa bước vào trong, gió biển cũng thừa cơ lùa tới tấp như được mùa. Bây giờ là tám giờ rưỡi tối, cậu đã có mặt tại quán ăn Josua Vui Vẻ ven bờ Đông, tại thị trấn Bình Minh Maui, cửa tiệm chuyên món cơm độn rau củ và vừa mở rộng kinh doanh nhà nghỉ vài tháng trước.

- Mời ngồi, mời ngồi!

Chủ quán là một người đàn ông phốp pháp, gương mặt phúc hậu, Sante ấn tượng mạnh bởi chiếc mũi cong quắp như những mụ phù thủy trong tranh vẽ của con nít, chắc chắn đây là Josua Mũi Khoằm rồi. Sante mỉm cười, dù rằng cậu đã mất cả tiếng đồng hồ để tìm được nơi này nhưng bước đầu mọi thông tin đều đúng như Lea kể lại.

Đặt hành lý bên cạnh, Sante ngồi vào bàn, vươn vai sau chuyến tàu dài hơi. Cậu nhìn quanh, quán xá chỉ mình cậu là khách, thấy lạ Sante bèn hỏi dò.

- Nghe nói chỗ này có món cơm độn nổi tiếng… Nhưng lại ít khách thế nhỉ.

Josua cười hiền hòa giải thích.

- Bão mà cậu. Tuy báo đài không nói gì về việc sẽ bị ảnh hưởng nhưng mọi người cứ phải lo xa một chút, nhất là những cửa hàng cận biển như tôi đây.

Sante ồ lên một tiếng thật khẽ. Josua liền tiếp lời.

- Thế cậu có muốn dùng món cơm ấy không? Sẽ chẳng mất nhiều thời gian đâu.

Sante gật đầu đồng ý. Chưa đến năm phút là Josua đã đem ra một đĩa đầy ắp cơm, có cải trắng, trứng, dưa chuột, cà rốt và bó xôi. Vừa đặt thức ăn lên bàn, Josua định quay đi thì Sante nhập đề ngay.

- Ông chủ có phải là Josua Mũi Khoằm không?

Josua ngập ngừng nhưng vẫn tỏ ra niềm nở.

- Vâng… Người thân và bạn bè tôi hay gọi bằng cái tên ấy.

- Bạn bè?

- Vâng… Họ hay trêu đùa về vẻ xấu xí của nó.

Josua hài hước chỉ tay lên sống mũi.

- Vậy thì... Lukas Freeman… cậu ta có phải bạn ông chủ không? Nếu đúng tôi muốn gặp người này.

Josua đã thôi vui vẻ, nụ cười hiền hòa cũng tắt lịm. Cậu gật.

- Vâng, thằng quỉ đó là bạn chí cốt của tôi.

- Thế thì tốt quá, tôi có thể nói chuyện với…

Sante nín bặt vì bỗng dưng Josua òa khóc. Trưởng thành từng này nhưng Josua vẫn khóc như một đứa trẻ. Cậu buông khay xuống bàn, tay nắm lấy tạp dề đưa lên mặt lau lấy lau để, cố giữ giọng rõ ràng để nói cho dứt câu.

- Thằng quỉ ấy chết rồi. Chết thật rồi.

Bình luận (0) Facebook
Báo cáo bình luận không phù hợp ở đây

0 Bình luận