Huyền Thoại Cổ Ngọc
Đại Dương Đại Dương
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Quyển 1: Diemond và Sự trả thù của Máu

Chương 106 - Sự Sống / Orvar Icenstaff

Độ dài: 5,058 từ - Lần cuối: - Bình luận: 0

ORVAR ICENSTAFF

Để tìm cái chết, đầu tiên người phải tìm thấy sự sống. Manh mối kỳ lạ ấy cứ vang vọng trong đầu Orvar mỗi đêm, bám riết lấy cậu không buông trên suốt quãng đường cậu cùng John quay lại Lightwell. Nhà khoa học trẻ ấy đã nảy ra một ý tưởng và cách duy nhất để chứng thực là phải quay về vùng đất chết chóc này. Giờ đây, khi thập thò bên bìa rừng nhìn cánh cổng thành đóng im ỉm, Orvar chợt thấy ruột gan mình nhộn nhạo không yên.

“Cậu có chắc lời giải nằm ở nơi tử địa này không?” Cậu hỏi, thanh âm có chút run run.

John im lặng một lúc rồi mới trả lời. “Không... Nhưng chúng ta chỉ có một cách duy nhất để tìm ra sự thật.”

Orvar nuốt khan. Cậu khẽ liếc qua người bạn mình. Nếu ý tưởng của John là đúng thì tuyệt vời không còn gì bằng nhưng nếu sai thì họ đã lãng phí rất nhiều thời gian chỉ vì một câu nói ngẫu hứng từ ông Martin Lorrain.

Mày nghĩ tao sống đến từng này tuổi rồi mà còn sợ chết ư? Ai rồi cũng phải chết thôi. Chạy làm sao thoát? Cứ thử cầu xin Thổ Mẫu Thần xem bà ấy có cứu được chúng bây khỏi Tử Thần không. Nữ thần của sự sống và sinh sôi nảy nở đấy. Lũ giáo dân thờ phụng bà ấy cho lắm vô. Rốt cuộc thì sao? Chết sạch dưới tay Charlotte kia kìa.

Đó chính là lý do John lôi cậu chạy ngược về Lightwell ngay sau khi buổi họp ấy kết thúc. Thổ Mẫu Thần — Nữ thần của sự sống và sinh sôi nảy nở... Orvar nheo mắt nhìn về phía tường thành đồ sộ cùng cánh cổng thép được canh gác cẩn mật. Họ đã để mất vùng đất thánh vào tay Charlotte và Niccolo. Điều đó đồng nghĩa với phe Thủ phủ đã nắm trái tim của lục địa Sắt và Đệ Nhất Phu Nhân cũng đã đủ điều kiện để đoạt lấy ngai vàng, danh chính ngôn thuận xưng Đế và thâu tóm toàn bộ quyền lực dọc ngang Illuminus này.

John rất giỏi. Cậu ấy đã xoay chuyển được cục diện ở Bolstrike trong buổi họp tối hôm đó. Ngoại trừ Quận trưởng Hugo Beaumont và Brian Hemingway có con trai đang phục vụ cho Charlotte thì toàn bộ các vị Quận trưởng khác đều đồng ý kéo quân về Thủ phủ. Ít nhất, đó cũng là một bước tiến. Vì vậy, nếu hôm nay cậu tìm ra được manh mối của viên Diemond thì cuộc chiến này rất có cơ may bị ngăn chặn. Thế nên, dù đó chỉ là một câu nói vô tình nhưng họ không thể nào bỏ qua được.

“Chúng ta vào bằng cách nào đây?” John chợt thì thầm. Ánh nắng chiều tà rực rỡ rọi xuống nhuộm vàng cả cánh rừng bao phủ họ. Tít đằng kia. Bọn quân lính vẫn nghiêm chỉnh đứng canh. “Lightwell đang trong tình trạng nội bất xuất, ngoại bất nhập.”

Cậu pháp sư nheo đôi mắt xanh quan sát khắp lượt. Bức tường thành kiên cố cao chót vót không có cách nào trèo qua nổi. Cấu trúc đất ở đó lại cực kỳ thô cứng khiến Orvar chẳng thể điều khiển nổi. Khu vực xung quanh lại là một bãi đất trống huơ trống hoác nên có muốn cũng chẳng nhờ cây rừng để đu vào được. Orvar tặc lưỡi nóng ruột. Cậu bước ra ngoài một chút nhưng John lập tức kéo cậu ngược lại.

“Làm cái gì thế?” Nhà khoa học rít lên khe khẽ. “Bọn chúng phát hiện ra bây giờ.”

“Nói bình thường đi John.” Orvar thản nhiên vừa nói vừa khụt khịt. “Ở đây đủ xa để chúng không nghe thấy tiếng mà. Với lại, cậu không ngửi thấy mùi gì kỳ cục sao?”

“Mùi kỳ cục à?” John chun mũi lại hít hà, “phải nhỉ, có mùi thối thoang thoảng... và cả cái mùi gì đó lạ lạ mà cũng quen quen.”

Lần này, cả Orvar lẫn John đều lú đầu ra khỏi bụi rậm. Cả hai vừa nhìn quanh quất vừa liên tục đánh hơi hệt như hai con thú non lần đầu đi tìm mồi. Hôm nay gió mạnh. Orvar ngửi mãi vẫn không nhận ra được thứ mùi ấy là gì và đến từ đâu. Trong một khoảnh khắc, cậu chợt thấy mình vô cùng ngốc nghếch. Khi không bỗng dưng lại đi hếch mũi lên mà ngửi một mùi thối ở tận đẩu tận đâu mà thậm chí còn chẳng biết nó có giúp gì được cho việc đột nhập vào Lightwell không nữa.

Nhưng chợt, cổng thành bỗng mở ra. John lập tức nắm tay Orvar kéo tuột vào trong bụi. Hai cậu nằm bẹp xuống đất, cổ nghểnh lên chú ý xem chuyện gì đang diễn ra. Trước mắt cậu, có hai chiếc xe cút kít từ từ đi ra. Mỗi chiếc do một người đẩy và trên xe chất đầy mấy chục bao tải to gần bằng kích thước của một người.

Khoan đã! To gần bằng một người sao?

Mùi hôi thối trong không khí bỗng dưng nồng lên hẳn.

Orvar quay sang John. Đôi mắt nhà khoa học cũng sáng rỡ lên. Cả hai đồng thanh nói, “chúng đang đem xác đi chôn!”

John hào hứng ngồi thẳng dậy, “vậy là có một hố chôn tập thể ở gần đây.” Cậu ấy lại ra sức mà hít, mặt mũi nhăn lại trông vô cùng khó coi.

Orvar liền lay cậu bạn mình, “không cần phải ngửi thứ mùi độc hại đó nữa. Chúng ta lần theo hai người họ là được rồi.”

Cậu pháp sư liền kéo John núp sâu vào lùm cây um tùm. Họ kiên nhẫn chờ. Đôi mắt trừng trừng ngó đăm đăm ra ngoài, chờ đợi hai tên đẩy xe đi ngang qua đây. Khu rừng hôm nay tương đối im lặng. Thỉnh thoảng chỉ nghe thấy tiếng quạ quàng quạc kêu trong gió lẫn với tiếng tim John cứ đập thình thịch mãi không thôi.

“Bình tĩnh nào,” Orvar trấn an.

“Không bình tĩnh nổi…” John nhíu mày. “Nếu tôi sai thì sao hả Orvar? Ngộ nhớ chẳng có gì ở Lightwell này, ngộ ngỡ chúng ta bị bắt, ngộ nhỡ…”

“Suỵt!” Cậu pháp sư bịt miệng bạn mình lại. Tiếng bánh xe lọc cọc đã vang lên rất gần. Orvar kéo John ngồi sát xuống. Vừa kịp lúc hai gã đẩy xe đi ngang qua họ và đâm vào một con đường mòn dẫn sâu vào rừng.

“Đừng nghĩ linh tinh nữa. Tôi có cách để vào thành rồi.” Orvar huých cù chỏ, “mau bám theo nào!”

Orvar khẽ gạt mớ cây cỏ sang một bên và giữ khoảng cách an toàn với chúng. May thay, chiếc xe lăn bánh trên con đường rừng gồ ghề liên tục tạo ra tạp âm nên chúng chẳng hề phát hiện ra mình đang bị theo đuôi. Mùi xác chết hôi thối theo ngược chiều gió thổi ra phía sau càng lúc càng nồng nặc, thậm chí còn lợm giọng hơn cả không khí trong hầm mộ nhà Lorraine.

“Chỉ có mấy cái xác trên xe thôi mà đã hôi như thế thì lẽ ra cái hố chôn tập thể trong rừng phải khủng khiếp lắm chứ.” Orvar nhăn nhó hỏi nhỏ, “sao chúng ta núp từ nãy đến giờ mà chẳng ngửi thấy mùi gì lạ cả vậy?”

“Cậu có thấy mấy cái túi trên xe thứ hai không?” Mặt John vẫn tỉnh bơ như thể đã quen với mùi hương ghê tởm này rồi. “Đó là bột mài từ củ hoàng hồng có tác dụng khử mùi và kháng khuẩn. Thứ bột này hay được dùng để rắc lên xác chết trong hố chôn tập thể lắm. Mỗi lần có dịch bệnh chết người hàng loạt mà phải để huyệt mở trong nhiều ngày, người ta sẽ phủ một lớp bột dầy lên trên xác chết rồi sau đó mới đặt tiếp xác người khác lên. Rồi lại một lớp bột, một lớp xác, cứ thế.”

“Ra là vậy…”  Orvar che mũi. Chợt mốt ý nghĩ xuất hiện trong đầu khiến cậu pháp sư khiếp đảm thốt lên, “Thiên Thần Cha Cả ơi, từ hôm xảy ra vụ thảm sát đến giờ đã hơn nửa tháng rồi mà vẫn chưa xử lý xong lượng người chết nữa ư?"

John thở dài nhưng không nói gì. Khu rừng càng lúc càng thưa thớt. Tiếng bánh xe lộc cộc vẫn đều đặn vang lên nhưng hình như trong đó còn có lẫn thêm âm thanh gì đó từ đằng xa vọng lại. Orvar căng tai lắng nghe. Mùi xác thôi khiến đầu óc cậu quay cuồng. Hai bên thái dương cứ nhức ong ong còn cuống họng thì giần giật cứ chực nôn thốc nôn tháo ra hết mật xanh mật vàng.

Cầu xin… Thổ Mẫu… thứ tha tội lỗi… An nghỉ… về với Đất Mẹ…

Cậu giật thót. Cả John cũng kịp nhận ra tình hình.

Hố chôn tập thể có người!

Phải hành động ngay mới kịp…

Orvar lập tức chui ra khỏi chỗ ẩn nấp. Cậu gọi quyền trượng xuất hiện. Thần chú tụ thành một đốm sáng trên đầu gậy. Cậu nhón chân. John theo sát sau lưng. Chỉ cần gần thêm một chút nữa thôi… Ngay lúc ấy, John vô tình giẫm lên một cành cây khô khiến nó phát ra mấy tiếng răng rắc giòn tan. Hai gã đẩy xe lập tức quay phắt lại, sắc mặt biến chuyển phức tạp từ giật mình sang hoảng sợ rồi tới tức giận. Chúng gầm gừ rồi rút dao ra.

Đất Mẹ nó! Orvar lẩm bẩm rồi lao lên trước. Cậu phóng hai nắm bùn xoáy thẳng vào miệng chúng để ngăn không cho chúng kêu thêm người tới hỗ trợ. Quá bất ngờ vì chạm mặt một pháp sư, hai tên kinh hoàng lảo đảo tìm đường tháo chạy. Orvar lập tức bắn hai mũi tên thần chú ngất xỉu vào gáy chúng rồi lấy dây leo kéo hai tên đó vào bụi rậm. Xong đâu vào đấy, cậu lại dùng chiêu cũ, mô phỏng lại trang phục của chúng rồi cùng John quay trở lại chỗ hai chiếc xe cút kít. Bọn cậu còn lấy bùn đát trát lên mặt và kéo mũ xuống xùm xụp để tránh cho tên linh mục kia để ý nghi ngờ.

“Ờm, để tôi đẩy xác người cho còn cậu đẩy mấy túi bột hoàng hồng đi nhé.” John ngập ngừng phân công.

“Cảm ơn cậu…” Orvar bịt mũi. Thứ bột này cũng chẳng dễ ngửi hơn là bao nhiêu. Cậu tự hỏi làm sao mà hai tên này có thể chịu nổi một công việc khủng khiếp như thế này chứ…

“Đi thôi!” John hự một tiếng lấy sức rồi đẩy cỗ xe nặng trịch ấy về phía phát ra tiếng cầu kinh khe khẽ. Orvar chậm chạp nối đuôi theo.

Qua hai khúc quanh nữa, hố chôn tập thể liền hiện ra ngay trước mắt. Giữa một khoảng rừng trống rộng thênh thang, có năm cái hố rộng và sâu đến độ có thể chứa được hàng trăm xác chết nằm xếp lớp lên nhau. Bốn hố đầu đã đầy hết hai phần ba. Những thi thể trên cùng đã thối rữa từ lúc nào. Dù có lớp bột hoàng hồng màu vàng vàng đỏ đỏ phủ lên, mùi hôi thối cũng chỉ vơi đi một ít.

“Này, đứng ngó gì thế? Nhanh chân qua đây đi. Xe cuối rồi!” Gã linh mục đang làm phép thánh ở phía hố cuối cùng gọi với sang. “Lẹ rồi còn về. Sắp tối rồi đấy.”

“Mau lên thôi Orvar.” John thì thầm nhắc nhở, “chúng ta phải đến nhà thờ chánh toà trước khi trời tối. Không thì sẽ phí thêm một ngày nữa đấy.”

Trời đúng là sắp tối thật. Ánh tà dương giờ chỉ còn là một vệt loang đỏ thẫm ở phía bên kia những ngọn cây um tùm. Orvar gật đầu rồi dùng sức đẩy xe đi qua mấy nấm mồ đồ sộ kia. Bầu không khí này, mùi hôi thối này, màu trời này, tất cả đều khiến cậu pháp sư tưởng như mình đang đi vào thế giới của Tử Thần vậy.

“Hạ xác xuống đi!” Gã linh mục ra lệnh.

John lo lắng quay sang nhìn Orvar nhưng cậu cũng chẳng biết phải giúp bạn mình thế nào. Cậu chưa bao giờ nhìn thấy hố chôn tập thể chứ đừng nói là hạ xác người xuống đó. Orvar lóng ngóng không biết phải làm sao. Cậu cứ nhìn mấy bao tải trên xe rồi lại nhìn lớp tử thi xếp chồng lên nhau ở dưới. Mùi hôi thối tởm lợm xộc từ mũi lên thẳng trên não khiến cậu choáng váng. Muốn nghĩ cũng chẳng nghĩ ra được gì.

John đành phải ra tay trước. Cậu khuân một bao xác lên vai rồi tiến lại gần miệng hố. Khi cậu định trượt cái bao xuống thì gã linh mục la lên cản lại, “này này này, gỡ bao ra! Chỉ để xác xuống thôi. Không có đủ bao để chứa đâu. Quên rồi à?”

Cậu pháp sư nuốt nước bọt đánh ực rồi run run gỡ miệng túi. Mùi tử thi lập tức xông lên. Orvar quay mặt sang chỗ khác nhưng cậu đã kịp nhìn thấy thi thể tím đen nằm co quắp bên trong. John lôi túi đến miệng hố rồi định trút cho xác chết từ từ lăn xuống triền dốc thoải nhưng gã linh mục lại lần nữa lớn tiếng mắng nhiếc. “Hai cái thằng này! Làm mệt rồi nên lười đúng không? Ai cho phép các ngươi thả xác xuống như thế hả? Phải có sự kính trọng tối thiểu đối với người đã khuất chứ? Leo xuống và sắp xếp cho đàng hoàng ngăn nắp nào.”

“Xin lỗi Cha,” John lí nhí rồi lóng ngóng không biết phải xuống làm sao.

“Khoan đã!” Orvar vội cản cậu pháp sư lại. Biết đâu đây là một cái bẫy… Biết đâu gã linh mục này đã nhận ra mình và John là giả dạng… Biết đâu bình thường xác người không được khiêng xuống đàng hoàng như thế… Tim cậu đập thình thịch. Mắt cứ đảo tới đảo lui quan sát bất chấp John và tên linh mục đều nhìn cậu chằm chằm. Rồi chợt, Orvar nhìn thấy ống quần của cả cậu và John đều dính thứ bột màu vàng đỏ ấy. Đến lúc đó, cậu pháp sư mới thở phào nhẹ nhõm mà nói, “để tôi giúp một tay.”

“Nhanh lên đi! Xong xe này là được về rồi.” Gã linh mục xua tay hối thúc. May mắn thay, hắn vẫn không hề nghi ngờ.

Orvar liền cùng John khiêng từng cái xác xuống. Người già, trẻ nhỏ, phụ nữ, đàn ông đủ cả. Nhưng tất cả đều là những người dân nghèo hèn không ai đếm xỉa tới. Nhìn gương mặt méo mó bầm đen của họ, bất giác mùi hôi thối khó chịu bay đi đâu mất. Thứ duy nhất khiến Orvar buồn nôn bây giờ chỉ có sự đốn mạt của những kẻ cầm quyền, những kẻ sẵn sàng lợi dụng đức tin của nhân dân, sẵn sàng hy sinh tính mạng của những con người cùng khổ để đạt được mục đích của mình.

Từng cái xác một được cậu và John sắp xếp ngay ngắn thành hàng chồng lên những nạn nhân bên dưới. Chân cậu lún xuống lớp thịt bở nát, giẫm lên mớ xương phát ra tiếng kêu lạo xạo. Ống quần dính đầy thứ màu vàng vàng đỏ đỏ chẳng biết là bột hoàng hồng hay là máu và dịch mô. Thỉnh thoảng, Orvar phải xếp lại cánh tay hoặc cẳng chân lặt lìa của một người nào đó. Thỉnh thoảng, John lại phải vuốt mắt cho một đứa trẻ chết gục trong vòng tay mẹ. Linh mục ở phía trên vừa rắc bột vừa đọc kinh. Gió vẫn thổi lồng lộng. Phía trên đầu, lũ quạ chao lượn chờ đợi đến bữa. Orvar cắn răng cắn lợi. Ngày đó nếu cậu không rời khỏi Frostmost, có lẽ cậu đã chứng kiến cảnh này trên chính quê hương của mình rồi.

“Lạy Mẹ lòng lành, xin Mẹ đón nhận những đứa con tội nghiệp này. Cầu xin Thổ Mẫu Thần Terria tối cao, Mẹ của chúng con, tha thứ mọi tội lỗi, để chúng con được an nghỉ và quay về Đất Mẹ, được chiêm ngưỡng thánh nhan Mẹ, được đắm mình vào vòng tay yêu thương của Mẹ…”

Bầu trời mỗi lúc mỗi đỏ hơn. Công việc rốt cuộc cũng đã xong. Orvar và John leo ra khỏi hố, cả người nồng nặc mùi tử thi.

“Hai ngươi cứ đi theo ta về nhà thờ chánh toà nhận tiền công,” tên linh mục gấp quyển kinh thánh lại rồi ra hiệu cho họ nhanh chóng đi theo hắn. “Thế là xong rồi đấy. Ngày mai Đức Thánh Hoàng sễ tới làm lễ rồi lấp đất lại.”

Hai cậu chỉ ậm ừ qua loa chứ không nói gì nhiều, phần vì sợ bị lộ danh tính, phần vì cũng chẳng biết mở miệng thế nào. Thực tại tàn nhẫn vẫn còn nghẹn ứ ngang cổ họng Orvar, đắng nghét, nhọn hoắt, vô cùng khó chịu. Cậu cứ thế im lặng cắm mắt vào thùng xe trống trơn còn vương vài vệt máu mà lũ ruồi vo ve bám riết không thôi. Con đường trở về dài tưởng chừng như vô tận. Trong khu rừng vắng, tiếng bánh xe gỗ lộc cộc vang lên. Từng chút, từng chút một, những chiếc bóng liêu xiêu đổ càng ngày càng dài. Khi về tới cổng thành thì mặt trời đã gần tắt hẳn.

Bọn cảnh vệ mở cổng ra mà chẳng thèm hỏi han hay có ý kiến gì. Lightwell giờ cứ như một thành phố bỏ hoang. Hai bên đường nhà nào cũng cửa chốt then gài im ỉm. Trên đường chốc chốc lại có một toán lính đi tuần, áo giáp có ký hiệu hình hoa uất kim hương của thánh tộc Colonna. Chỉ mới ngày nào thôi, Orvar còn cùng John theo chân Thống đốc Avicci, công tử Dominique, và tiểu thư Cassandra vào thành dự hội vậy mà bây giờ hai người đã bị giết còn người còn lại bặt vô âm tín chẳng rõ sống chết ra sao.

Lần đó, Lightwell còn căng tràn sức sống, khắp nơi đâu cũng thấy người, hoa màu trái cây, trang sức đá quý bày bán đầy chợ. Còn hôm nay cả thành phố sực nức mùi tử khí nặng nề cuộn theo gió thổi ù ù. Ở ngay trung tâm, nhà thờ chánh toà sừng sững dựng lên như một bia mộ cắm giữa vùng đất chết.

“Cứ đẩy xe vào thẳng trong đó rồi dựng ngay ngắn ở nhà kho gần tượng Thổ Mẫu Thần nhé,” gã linh mục dặn dò. “Rồi đi gặp mẹ bề trên mà nhận tiền công. Giờ này chắc bà ấy đang giám sát trong bếp đấy. Ta còn mấy việc bên ngoài nên các ngươi cứ đi trước đi.”

“Vâng, thưa Cha.” John lễ phép đáp. Chờ cho linh mục khuất sau những dãy nhà, John mới quay sang Orvar mà hối thúc, “nhanh nào, mặt trời sắp lặn rồi!”

Hai chiếc xe cút kít lại lọc cọc di chuyển. Âm thanh gấp rút hơn hẳn ban nãy. Qua mấy con phố vắng tanh, cổng nhà thờ chánh toà đã hiện ra trước mắt. Lính gác thấy hai cậu tới thì nhanh nhẹn mở cửa mà chẳng thèm hỏi han gì. Orvar và John cúi đầu nhanh chóng lỉnh qua. Tim cậu đập thình thịch trong lồng ngực, chỉ lo có gì bất trắc.

Sân nhà thờ rộng thênh thang nhưng nham nhở cỏ và đất xanh xanh đen đen như bị một đàn voi dày xéo. Orvar đảo mắt nhanh một vòng để nhìn cho kỹ cái nơi định mệnh đã giết chết hàng ngàn người đêm hôm ấy. Phía bên trái là một toà nhà ba tầng chia thành nhiều phòng. Mỗi phòng đều có cửa sổ và ban công nhìn xuống sân. Đó có lẽ là khu vực tu viện. Nhà thờ chánh toà vươn cao chót vót ngay đối diện với cổng vào. Bức tượng bán thân Thổ Mẫu Thần giang tay vẫn chễm chệ ngay trên cửa chính điện. Dưới bức tượng ấy chính là chỗ mà Dominique nằm chết, ngay trước mắt John.

“Cậu không sao chứ?” Orvar khẽ hỏi khi chiếc xe của John chợt dừng lại ngay vị trí đó.

Nhà khoa học trẻ ậm ừ gì đó, hết gật rồi lại lắc đầu. Sau cùng, cậu ấy rẽ vào con đường nằm giữa nhà thờ và tu viện, dẫn vào khu vườn bên hông, cũng là nơi tổ chức vở kịch hôm ấy. “Trời sắp tối hẳn rồi. Chúng ta phải nhanh lên thôi.”

Chỉ mới đi một đoạn, Orvar đã nhìn thấy pho tượng Thổ Mẫu Thần đứng khuất sau hàng cây trong vườn. Hai cậu quăng xe cút kít ngay trước cửa hàng rào, quan sát kỹ bốn bên. Khi đã chắc chắn xung quanh không có ai, Orvar và John lập tức đu người vào vườn.

Những tán cây sum sê lập tức nuốt chửng hai cậu, bao bọc hai kẻ đột nhập trong bóng râm và sự tĩnh lặng. Con đường mòn dẫn đến tượng đá mỗi lúc một tối. Ánh sáng dẫn đường cho họ giờ chỉ nhạt nhoà vài đốm xen lẫn trên đất.

“Nhanh nữa lên, Orvar ơi.” John nắm tay cậu kéo xềnh xệch qua mấy ngã rẽ. “Sắp không kịp mất rồi.”

Cậu pháp sư chẳng hiểu mô tê gì. Suốt từ đầu chuyến đi đến giờ, Orvar vẫn chẳng hiểu vì sao John cứ một mực phải quay về nơi nguy hiểm trập trùng này để “tìm sự sống.” Tượng Thổ Mẫu Thần ở đâu cũng có trên khắp Illuminus này nhưng John khăng khăng phải đến đây cho bằng được.

“Kịp gì thế? Tôi chẳng hiểu gì cả.” Orvar cằn nhằn, “nếu là tìm tượng Thổ Mẫu Thần thì chẳng phải ở nhà cậu cũng có sao?”

“Đúng là tìm tượng bà ấy, nhưng...” John hổn hển kéo cậu pháp sư qua khúc ngoặt cuối cùng. Thổ Mẫu Thần Terria lừng lững hiện ra trước mặt họ. “Nhưng không có pho tượng nào trên Hetra có khắc dòng chữ này.” Nhà khoa học hăng hái chạy đến và chỉ vào một dãy ký tự nhỏ xíu đã mòn vẹt đi trên bệ tượng.

Orvar vừa nheo mắt vừa lần tay qua hàng chữ đó. Cổ ngữ... Cậu lẩm nhẩm. Lpuem ip qsiu ve ja yop fa mit miuv ag fiu fiuz. “Hãy quỳ gối và cầu nguyện với mẹ khi ánh sáng cuối ngày chết?”

“Chính xác!” John rớt đánh phịch xuống đất và cũng không quên kéo Orvar cùng quỳ theo. “Ánh sáng cuối ngày sắp tắt rồi. Mau! Vào vị trí xem chuyện gì sẽ xảy ra nào...”

Cậu pháp sư ngẩng đầu. Bức tượng Terria vốn dĩ đã cao gấp năm, sáu lần một người bình thường, giờ lại càng đồ sộ hơn. Từ dưới nhìn lên, Orvar chỉ có thể thấy được loáng thoáng gương mặt hiền từ của bà ấy qua kẽ đôi bàn tay đặt ngửa. Người ta thường bảo Terria nhìn thấu tất cả qua đôi mắt của những bức tượng thế nên khắp nơi trên toàn Illuminus, đâu đâu dân chúng cũng tạc tượng Đất Mẹ và đặt trong nhà họ để bà chứng kiến cuộc sống kham khổ và đức hạnh của đàn con mình. Thế nhưng, Orvar tự hỏi liệu bà ấy thật sự nhìn thấy đêm đẫm máu đó thì bà sẽ nghĩ gì, sẽ làm gì khi người ta nhân danh bà mà tàn sát biết bao đạo hữu. Mẹ nghĩ gì hỡi Terria vĩ đại, hay mắt mẹ đã bị chúng che mờ vì dòng huyết lệ giả tạo kia rồi?

Hoàng hôn dần tàn lụi đi. Orvar và John căng mắt ra quan sát. Những tia nắng cuối cùng trượt dần qua mặt hai cậu. Màn đêm khẽ khàng nuốt chửng cả khu rừng. Họ chờ mãi mà vẫn chẳng có dấu hiệu gì. Dòng chữ ấy càng lúc càng giống như một trò cười.

“Có vẻ như ý tưởng của cậu sai mất rồi...” Orvar thở dài. Ánh sáng giờ chỉ còn là một vầng quang mờ nhạt xung quanh đôi bàn tay để ngửa kê sát vào nhau.

“Không... Chắc chắn phải có ý nghĩa gì đó...” John run run, “Cổ ngữ là ngôn ngữ của các thần. Phải có lý do người ta mới khắc mấy chữ đó lên bệ tượng. Chắc chắn phải có gì đó liên quan tới Tử Thần.”

John nhìn quanh quất xung quanh rồi cậu ấy đột ngột reo lên, “Orvar, xem này!”

Cậu pháp sư chồm qua rồi nhìn theo hướng bạn mình chỉ. Qua kẽ hở giữa hai tay Terria, ánh sáng rọi xuống đất một đốm sáng hình dấu thập. Mặt trời dần tắt, dấu thập dần di chuyển và cũng dần mờ nhạt đi. Cuối cùng, nó dừng lại và biến mất ở một vị trí cách chỗ bọn cậu đang quỳ chừng mười bước chân.

“Chỗ đó!” John phấn khích.

Orvar lập tức xoay quyền trượng. Lớp đất bên dưới liền bị xới tung lên. Từng chút, từng chút một cái hố ấy càng ngày càng rộng ra. Tim cậu đập thình thịch. Trong một khoảnh khắc, Orvar nín thở chờ mong.

Có một cuộc nội chiến sắp diễn ra. Nhìn bề ngoài thì trông có vẻ như một cuộc xung đột tranh giành quyền lực ở Illuminus, nhưng người ở bên trong mới biết, thật ra, tất cả giết chóc và đổ máu đều vì viên ngọc thần đáng nguyền rủa này.

Cái hố mỗi lúc một sâu hơn, nhưng tuyệt nhiên vẫn chưa thấy dấu hiệu gì khả quan cả. Orvar nuốt khan. John nhìn chằm chằm như bị thôi miên vào lỗ đen đó.

Nếu ý tưởng của John là đúng, bọn cậu sẽ nắm trong tay chìa khoá đầu tiên để khống chế Charlotte và chấm dứt cuộc đại chiến thế giới nay.

Nhưng nếu ý tưởng của John là sai... Orvar thật không dám nghĩ tới nữa.

CHOANG!

Có thứ gì đó bên dưới! Orvar và John lao đến miệng hố. Trời đã tối hẳn. Orvar vội tung ra mấy đốm sáng nhẹ nhàng chui xuống để nhìn xem cậu đã đào trúng cái gì. Cậu pháp sư niệm chú, khẽ dâng lớp đất sâu bên dưới lên, kéo theo cái vật đầy nghi vấn ấy. Cậu và John nhìn nhau. Cả hai đều toát mồ hôi như tắm. Không ai dám thở mạnh. Bí mật của sự sống chính là đây.

Và rồi, thứ đó lú ra khỏi hố. Dưới ánh sáng xanh mờ ảo, viên đá tảng nặng trịch trơ trơ ra trước mắt hai cậu. Một viên đá tầm thường như bao viên đá khác trong khu vườn này. Một viên đá vô tình nằm sâu dưới lòng đất chỗ được Terria chỉ điểm để cười vào mặt những kẻ dại khờ.

“Không, không thể nào!” John nấc lên, “thứ này chắc chắn có gì đó đặc biệt mà.” Nhà khoa học vội lao tới sờ mó viên đá. Cậu hết gõ lên nó rồi lại xoa xoa vuốt vuốt, cố gắng tìm xem trên cái thứ tầm thường ấy có ẩn chứa bí ẩn nào không.

Orvar cười nhạt. Cậu hiểu cảm giác của John. Bản thân cậu cũng có một thứ vô dụng y hệt như vậy. Đôi tay siết nhẹ viên đá kỳ quặc Đại pháp sư để lại cho cậu trước lúc chết, Orvar ngẩng mặt nhìn Terria. Cậu tự hỏi liệu bà ấy có thấy hai người bọn họ khổ sở thế nào dưới chân bà ấy không hay độ bàn tay ngửa ra kia đã che đi mất cảnh tượng nực cười đó rồi.

Thật kỳ quặc! Orvar nhíu mày ngẫm nghĩ. Trên khắp Hetra, Thổ Mẫu Thần luôn được khắc hoạ với hình dáng một tay gieo hạt, một tay cầm liềm. Nhưng duy chỉ có mỗi bức tượng ở đây là tạc bà ấy ngửa tay ra như đáng hứng thứ gì đó. Và cũng chỉ ở đây mới có dòng chữ bằng Cổ ngữ kia thôi.

Chợt, một ý tưởng mới loé lên trong đầu cậu. Orvar run run gọi, “John... John ơi...”

Nhà khoa học vẫn đang loay hoay với viên đá. Cậu ta chỉ ậm ừ yếu ớt rồi tiếp tục công việc vô nghĩa của mình.

“Tôi nghĩ ra chúng ta sai ở đâu rồi...” Orvar khẽ nói, mắt vẫn nhìn chăm chăm vào tay bức tượng.

“Ở đâu?” John ngẩng đầu mệt mỏi hỏi.

“Tay của bà ấy chụm lại với nhau,” cậu pháp sư phân tích. “Có lẽ câu trả lời không phải nằm trên đất mà là nằm trong lòng bàn tay Terria. Cậu nghĩ xem, có ở đâu mà tượng Thổ Mẫu Thần được tạc trong tư thế kỳ lạ thế này chưa? Tay bà ta ngửa ra như đang hứng gì đó. Hứng thứ gì bây giờ ngoài ánh nắng cuối ngày ra?”

John sững sờ. Cậu ngẩng nhìn Đức Mẹ một lúc rồi lẩm bẩm, “có lẽ thật vậy đấy, Orvar à. Có lẽ thật vậy đấy. Nhưng ánh sáng cuối ngày đã chết rồi. Chúng ta đành thử lại vào hôm sau vậy.”

Ngay sau khi John vừa dứt lời, những hạt mưa nặng trĩu cũng từ từ rơi xuống. Gió vẫn thổi ù ù. Bầu trời trên cao mây giăng đen kịt. Một cơn bão dữ đang đến.

Bình luận (0)
Báo cáo bình luận không phù hợp ở đây

0 Bình luận