Huyền Thoại Cổ Ngọc
Đại Dương Đại Dương
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Quyển 1: Diemond và Sự trả thù của Máu

Chương 25 - Nghi Vấn / Orvar Icenstaff

Độ dài: 5,241 từ - Lần cuối: - Bình luận: 0

ORVAR ICENSTAFF

31 ngày trước Xuân Phân,

Ngày Xuân Phân, cũng là ngày Nhập Phái, đang đến gần nên đâu đâu trên đảo cũng thấy từng nhóm Pháp sư, từng nhóm Phù thuỷ cùng nhau hăng say luyện tập. Trên đường đi đến bãi tập huấn, Orvar để ý thấy một nhóm trẻ em cũng nhí nhố ồn ào tập tành làm phép. Gần đó, một cậu Pháp sư tập sự đang cố gắng điều khiển dòng nước đi thành những đường tròn điệu nghệ, nhưng rốt cuộc nó chỉ uốn lượn được ba vòng rồi đổ ập xuống đất. Cậu bé xụ mặt xuống, vung vẩy quyền trượng trong thất vọng còn đám bạn xung quanh thì cười ồ lên trêu chọc. Orvar khẽ nhếch nhẹ khoé môi, chợt nhớ đến những ngày đầu tiên cậu tập tễnh luyện phép cũng chỉ gọi ra được vài cái bong bóng nước, nhưng ngày hôm nay, điều khiển thác nước hay sóng biển không còn là vấn đề gì to tát.

Ở Frostmost, trẻ em tròn bảy tuổi sẽ được ban quyền trượng, bắt đầu tập huấn, và mười tuổi sẽ bước vào kỳ thi phép thuật đầu tiên trong đời. Ở cấp độ này, các em chỉ được học cách điều khiển nước, băng, và gió, những nguyên tố cơ bản ở cực bắc. Nếu vượt qua bài thi này, các em sẽ trở thành những Pháp sư tập sự. Trong vòng tám năm sau, những Pháp sư này tiếp tục học cách điều khiển những nguyên tố còn lại như lửa, sấm sét, đất đá, kim loại, cây cối, động vật, ánh sáng, và bóng tối. Trước năm hai mươi lăm tuổi, họ lại được huấn luyện sáu kỹ năng chuyên biệt của các Phái và chuẩn bị cho kỳ sát hạch quan trọng nhất cuộc đời một Pháp sư: Nhập Phái. Trong ngày này, họ có thể sẽ chính thức trở thành một Pháp quân chiến đấu bảo vệ Frostmost, một Thuần giả mạnh mẽ, một Thầy bùa tài giỏi, một Dược sỹ uyên bác, một Giả Kim sỹ khéo léo, hoặc một Thầy Tư tế quyền lựuc. Phái duy nhất không đào tạo và cũng không tuyển Pháp sư là Tiên tri. Loại quyền năng này rất đặc biệt, không thể dạy cũng không thể học. Trên Frostmost chỉ có duy nhất một Tiên tri và khi người đó chết, quyền năng kỳ lạ này sẽ tự động được chuyển cho một Pháp sư nào đó mà không ai biết trước được.

Sau khi Nhập Phái, các Pháp sư tiếp tục cống hiến cho Phái của mình bằng việc không ngừng chiến đấu, nghiên cứu, và phát minh. Tuỳ theo công trạng và pháp lực mà sau đó một số Pháp sư ưu việt sẽ được thăng làm Trưởng Phái, trở thành người cùng Đại Pháp sư gánh vác số mệnh của Frostmost. Đó là một vinh dự cực kỳ vĩ đại. Có người cố gắng cả đời vẫn không thể ngồi vào vị trí này. Lại có những người, mặc dù rất hiếm hoi, giống như Sigurd Icenstaff, chỉ cần một thời gian ngắn đã có thể đường hoàng bước vào tháp Đại Hội Đồng. Các Trưởng Phái tuy bình đẳng với nhau về quyền lực nhưng người dân Frostmost ai ai cũng biết, Tổng Pháp quân chính là chức vụ danh giá và được kính trọng nhất.

Orvar lại không nghĩ như vậy vì trong mắt cậu, cái chức Tổng Pháp quân không hơn không kém một lời nguyền. Bản thân là một Pháp sư xuất sắc, Orvar thông thạo đủ các loại bùa, các thần chú trừ yêu, những công thức bào chế thuốc phức tạp nhất, nhưng cậu chưa bao giờ nghiêm túc luyện tập các phép thuật chiến đấu bởi Orvar vốn không muốn bước vào con đường Pháp quân.

Tuy vậy, kể từ sau đêm trò chuyện cùng Đại Pháp sư, suy nghĩ của cậu đã dần thay đổi. Nếu cậu không mạnh mẽ lên, nếu cậu cứ tiếp tục trốn tránh thì sẽ không bảo vệ được gia đình mình. Bây giờ Orvar đã không còn là một đứa trẻ như ngày trước, không thể giận lẫy, không thể ích kỷ chỉ nghĩ đến mình. Cậu bắt buộc phải hiểu bổn phận của bản thân rằng mỗi cá nhân đều gắn liền với sự tồn vong của dân tộc.

Chính vì thế, hôm nay là lần đầu tiên Orvar đến sân đối kháng một cách tự nguyện. Còn cách cả mấy thước nữa nhưng những tiếng hô hào, tiếng lửa thiêu đốt, tiếng gió hú đã vọng đến ầm ầm bên tai. Orvar hơi khựng lại. Cậu ngoảnh lại phía sau, bọn con nít vẫn đang hí hoáy vung trượng tập luyện, có mấy Phù thuỷ đang khệ nệ bưng những chồng vải trắng phau đến xưởng may để chuẩn bị làm cờ hiệu cho ngày Nhập Phái sắp đến. Ai nấy đều tất bật vì đảo quốc. Cậu Pháp sư trẻ thở dài, cố nén lại lòng tự ái rồi miễn cưỡng tiếp tục đến bãi huấn luyện.

Sân đối kháng là một bãi cỏ rộng lớn hình tròn nằm ở triền đồi phía đông. Đây là địa điểm duy nhất mà các Pháp sư được phép yểm các thời tiết để bảo đảm các trận đấu không bị băng tuyết hay mưa gió làm ảnh hưởng. Tuy nhiên trong vài trường hợp huấn luyện bắt buộc, các Pháp sư vẫn phải thi đấu trong những điều kiện khí hậu khác nhau như bão cát, đầm lầy, động đất. Nhìn từ xa, trên triền đông bao giờ cũng có một ô đất hình tròn mà nơi đó khí hậu không ăn nhập gì với toàn bộ phần còn lại của đảo.

“Ồ ồ, xem ai đến kìa!”

Cái giọng lè nhè kéo dài như người say rượu của Mediv cắt ngang dòng suy nghĩ của Orvar. Cậu mệt mỏi nhướng mày, lười biếng nhìn tên Pháp sư ú nù cùng đám lâu la của nó đang tiến tới. Mediv là con của một Thuần giả giàu có, cả ngày trừ khi đến trường, nó và bọn bợ đỡ chỉ đi rong chơi khắp đảo. Tuy cha nó dành cả đời để nghiên cứu tìm hiểu các linh vật và sinh vật huyền bí, nó lại tỏ ra vô cùng chán ghét những tạo vật đó. Chúng nó thường hay vào rừng lấy trộm trứng chim Cầu Vồng [note10964] để làm trang sức cho bọn con gái mặc cho Đại Pháp Sư đã nhiều lần cảnh cáo điều này sẽ gây hại đến cân bằng sinh thái của Frostmost. Mediv và bọn tay sai của nó cực kỳ khinh người. Nếu những gia đình khác không ưa mẹ con Orvar một phần, thì nó lại ghét nhà cậu đến mười phần mặc dù bà Olivette và Orvar cũng bao giờ đụng chạm gì đến nó, cứ như nó tự cho phép mình được xấc xược với mẹ con cậu vậy.

“Thằng con của ả quạ đen đến đây làm bia tập bắn cho chúng ta đấy chúng mày ơi.” Tên Mediv bắt đầu đãi giọng dài ra. “Chúng mày cứ tự nhiên phóng lửa phóng băng vào Orvar nhé. Mẹ nó thấy được hết tương lai nên chắc hẳn đã nói trước cho nó biết đường né rồi.” Bọn nịnh bợ cười rú lên.

Một đứa trong chúng vừa nói vừa cười sặc sụa, “Ấy mà khoan, sau cái trò điên loạn bà ta gây ra ở lễ tưởng niệm, Đại Pháp Sư đã nhốt bà ấy trong tháp để chữa bệnh điên khùng rồi mà.”

Đúng là sau sự vụ ngày hôm ấy, Ulfrik và Olivette bí mật rời khỏi Frostmost đến Cộng Hoà Illuminus. Sự vắng mặt của Ulfrik thì không có gì lạ vì nhiệm vụ của một Tổng Pháp Quân luôn đòi hỏi ông phải đi ra nước ngoài rất nhiều. Nhưng còn Olivette thì chỉ có thể lấy lý do bệnh nặng mà tịnh dưỡng trong tháp mà thôi.

“À phải phải!” Tên Mediv thốt lên, vờ như hết sức quan tâm. “Mẹ mày còn minh mẫn không Orvar? Điên loạn như thế chắc không đến mức giết cha mình rồi tự sát đấy chứ?” Rồi hắn quay sang lũ bạn, trố mắt chu mỏ như đang hoảng sợ, “Thật tình tao không mong bà ấy chết đâu. Ai biết được cái thứ pháp thuật xúi quẩy đó sẽ từ bà ta nhập vào ai chứ? Đúng không chúng mày?”

Cả bọn phá lên cười phụ hoạ. Bọn chúng ồn ào huyên náo cả sân tập, không ai là không nghe thấy những lời chói tai đó, nhưng tuyệt nhiên chẳng có người nào lên tiếng bảo vệ Orvar.

Những lời giễu cợt của đám ô hợp tràn ngập bên tai khiến tâm trạng vốn đã hỗn tạp của cậu Pháp sư trẻ lại càng thêm trầm trọng. Tay cậu siết chặt thân trượng phép làm bằng gỗ tùng, cố gắng ổn định nhịp thở. Và khi Mediv còn chưa kịp phản ứng gì thì đã bị hàng chục cột chông nhọn hoắt bằng băng vây kín lại đến không thể nhúc nhích. Qua những cọc chông sắc lẻm, Mediv nhìn thấy ánh mắt Orvar lạnh lẽo đến thấu xương nhưng đồng thời cũng hừng hực lửa hận. Bất giác hắn bỗng cảm thấy kinh hãi vô cùng, đến nỗi không thể kìm chế được mà khóc toáng lên cầu cứu. Đám tay sai của Mediv vội vã rút trượng phép định lao vào khống chế Orvar nhưng cậu kịp thời vung tay về phía chúng, niệm “Tước đoạt.” Lập tức tất cả trượng phép đều bị cuốn phăng tới chân Orvar trong sự ngỡ ngàng bất lực của đám chó hùa vô dụng. Cậu tiếp tục huơ trượng phép, kéo Mediv ra khỏi đám cọc chông rồi hất phăng nó ra khỏi sân đối kháng, xô ngã chổng vó cả bầy lâu la khiến đứa nào cũng nằm lăn lốc vật vã trên tuyết trông hết sức thảm hại. Cảnh tượng vừa rồi khiến mọi người xung quanh kinh ngạc sững sờ, ai nấy đều tròn mắt há hốc miệng không nói được lời nào.

Mediv và đồng bọn lộ rõ sự sợ sệt, bình thường vẫn là chúng đè đầu cưỡi cổ hiếp đáp Orvar vì vẫn nghĩ con trai của nhà Tiên tri chẳng có gì tài cán. Chúng thường bắt nạt cậu để giấu đi cái sự vô năng lực của chúng, để chúng cảm thấy rằng mình vẫn còn khá hơn ai đó nhưng tình thế hôm nay bỗng dưng đảo ngược khiến chúng nhất thời hoang mang không biết phải làm gì. Bạn bè đồng trang lứa ai cũng nghĩ Orvar chỉ là một thằng mọt sách vì mỗi lần đếm kỳ kiểm tra, điểm chiến đấu của cậu chỉ vừa đủ để không bị rớt lại. Ai ngờ đâu, pháp lực của cậu khủng khiếp hơn như vậy rất nhiều.

Đầu Orvar đau buốt. Những cơn ác mộng mấy ngày nay không những không thuyên giảm, mà ngược lại còn trở nên sống động hơn. Cậu nghe rõ rành mạch tiếng kêu cứu trong giấc mơ thế nhưng vẫn không thể xác định rõ đó có phải là tiếng mẹ hay không. Màn đêm đen đặc vẫn bủa vây và mặc cho cậu có vùng vẫy cỡ nào, Orvar vẫn không thể tìm ra được lối thoát. Cứ hằng đêm như thế, cơn ác mộng dần ăn mòn sự kiên nhẫn trong cậu nên Orvar đành trút hết những bất an đó vào luyện tập, hy vọng khi tình huống xấu nhất xảy ra thì cậu có thể xoay chuyển tình hình bằng cách nào đó.

Cậu lững thững bước đến khu vực tập bắn, hất đầu ra hiệu cho Pháp sư giữ bãi bắt đầu tập luyện. Ông ta vung trượng, ba mươi tấm bia liền được dựng lên sẵn sàng. Pháp sư bãi tập bắt đầu đếm ngược. Ba… Hai… Một! Những tấm bia đồng loạt bay lên cao, xoay vòng liên tục. Chúng lướt qua những ngọn đuốc xanh tạo thành những chiếc bóng vùn vụt chạy trên mặt đất.

Orvar một mình đứng giữa đám bia hung hãn như một con mồi bị bao vây và dồn đến đường cùng. Cảm giác này giống hệt trong giấc mơ. Orvar nhắm nghiền mắt, nghiến răng rồi hét lên một tiếng dữ tợn. Quyền trượng của cậu phóng ra ba mươi quả cầu lửa. Trong tích tắc đã thiêu rụi hồng tâm những tấm bia đó khiến chúng chao đảo rớt lộp bộp xuống nền tuyết. Orvar thở dốc rồi nhanh chóng bỏ đi. Pháp quân gác bãi vẫn còn kinh ngạc nhìn ba mươi tấm bia thủng lỗ cùng một vị trí giống nhau như đúc. Sau lưng Orvar vẫn còn nghe rõ tiếng mọi người xì xầm bàn tán, “Tam Thần ơi, làm thế quái nào mà nhắm mắt vẫn có thể bắn được chính xác như vậy? Orvar đó giờ vẫn luôn giấu kín kỹ năng thần kỳ như vậy sao?”

Cứ nghĩ rằng dồn sức luyện tập sẽ giúp triệt tiêu nỗi bất an trong lòng, nào ngờ còn khiến bản thân bốc hoả hơn. Orvar lầm lũi rời khỏi bãi tập, trong đầu vẫn miên man lo lắng về mẹ. Đã rất lâu rồi vẫn không hề có tin tức gì của họ cả. Thứ duy nhất cậu nhận được lại là những giấc mơ quái dị dai dẳng đeo bám. Orvar bước đi trong vô định, dòng suy nghĩ ngổn ngang trong đầu.

Trước khi cha tử trận, mẹ cũng gặp đi gặp lại cùng một cơn ác mộng. Liệu lần đó và lần này có mối liên hệ gì với nhau hay không? Hai tình huống này thực sự có rất nhiều điểm tương đồng. Mẹ là Tiên tri, trước giờ mẹ chỉ biết dự báo tương lai chứ chưa bao giờ nghe nói mẹ có thể báo mộng. Lẽ nào đây là một quyền năng khác mà chính bản thân mẹ cũng không biết? Không đúng! Rõ ràng theo lời ông ngoại thì những gì mẹ nhìn thấy trong giấc mơ trước khi cha mất là sai sự thật mà. Orvar xoa trán, nhíu mày. Trừ khi… những gì ông và mọi người biết không phải hoàn toàn là sự thật. Trừ khi bên trong còn có những chi tiết nào đó cố tình bị ẩn đi. Orvar khựng lại. Nếu như chứng minh được giấc mơ của mẹ hôm đó là sự thật thì cũng có thể phần nào thuyết phục ông rằng cơn ác mộng của mình là có thật. Đại Pháp sư sẽ phải tin lời mình và cho người đi giải cứu mẹ và chú! Tuy nhiên, làm thế nào để tìm ra bằng chứng đây?

Orvar chau hàng mày rậm đen láy, đôi chân vô định chậm rãi bước, những dòng duy nghĩ rối như tơ vò trong đầu. Vô tình, Orvar dừng chân tại quảng trường Crescent. Những bức tượng Tổng Pháp quân vẫn sáng rực ánh đuốc. Ai ai cũng trong tư thế oai hùng sẵn sàng nghênh chiến. Cậu tìm đến bức tượng Sigurd.

Trước đây đã có nhiều người nói rằng Orvar càng lớn càng giống cha. Cậu chưa bao giờ nghĩ nhiều về điều này… cho đến bây giờ. Cậu và Sigurd có cùng một kiểu mặt góc cạnh, đôi mày rậm cương nghị, và đôi mắt xanh đặc trưng của dòng họ Icenstaff. Orvar nắm lấy bàn tay Sigurd đang cầm kiếm, băng giá truyền cái lạnh vào da thịt cậu. Orvar nhắm mắt, thầm ước mình cũng có thể trở nên mạnh mẽ, can trường như cha. Nếu có thể được quay về quá khứ, cậu chắc chắn sẽ giống như chú Ulfrik, liều mình sát cánh cạnh Sigurd, bảo vệ gia đình, bảo vệ quốc đảo.

Bỗng nhiên, trong đầu cậu loé lên một ý nghĩ. Chú Ulfrik! Đúng rồi! Mẹ và Đại Pháp sư đều không có ở bên cha khi đánh trận. Ngày hôm đó chiến đấu cạnh cha chính là chú ấy. Người nắm rõ nhất tình hình chắc chắn là chú Ulfrik. Nếu muốn biết những điều không ai biết, chỉ có thể hỏi Ulfrik. Orvar vội vã chạy thẳng đến ngôi nhà gỗ đơn độc ở triền Windful, nơi Tổng Pháp quân hiện tại đang ở. Bên trong chất đầy những loại vũ khí kỳ lạ, những cuộn binh pháp sưu tầm từ Thần Hoả Quốc, ngoài ra còn có một kệ lớn những quyển bùa chú đáng sợ mà Orvar đã từng lén lấy xem.

Ulfrik và cậu không thân thiết. Từ lúc còn bé cậu đã cảm nhận được sự ghẻ lạnh của chú. Ulfrik không bao giờ lại gần cậu, chưa bao giờ bắt chuyện với cậu, thậm chí luôn né tránh Orvar. Trong những buổi huấn luyện kỹ năng Pháp quân, Ulfrik cũng thường xuyên ngó lơ cháu mình. Orvar không biết bản thân đã làm ra chuyện gì mà lại bị chú ấy lạnh nhạt đến thế. Cậu nhớ lúc bé đã có lần từng gặng hỏi mẹ nhưn bà Olivette chỉ gượng ép trả lời, “Tổng Pháp quân có bao giờ thân thiết với gia đình đâu con.” Và đấy lại thêm một lý do để Orvar không ưa cái chức danh này.

Orvar chạy mãi cũng đến được căn nhà âm u bí hiểm của Ulfrik. Chú cậu vốn là một người ít nói, trầm mặc, và xa lánh mọi người. Nhà của Tổng Pháp quân nằm khuất bên triền đồi Windful, cách xa khu nhà của mọi người dân Frostmost. Mỗi lần đứng trước cửa nhà Ulfrik, Orvar đều cảm thấy rờn rợn. Căn nhà không cửa sổ kín như bưng toát ra vẻ kỳ quái, ma mị khiến bất cứ người nào cũng phải e dè thận trọng. Cửa nhà được một con rắn bằng sắt cuộn mình cột chặt lại. Nhìn thấy Orvar đến, nó ngẩng đầu há mõm, rồi thè lưỡi rít lên đe doạ. Cậu quan sát con rắn rồi lấy quyền trượng chĩa thẳng vào đầu và niệm, “Rộng mở!” Con rắn lập tức uốn éo nới lỏng thân hình rồi trườn khỏi tay nắm cửa. Đây là lần thứ hai Orvar lẻn vào nhà Ulfrik. Lần trước do mải mê đọc trộm sách phép mà cậu vẫn chưa có dịp nhìn kỹ căn nhà này.

Chợt, cậu khựng lại. Liệu có gì khác biệt không? Nếu Ulfrik biết được điều gì đó thì đã báo cáo với ông ngoại rồi, nhưng bao nhiêu năm qua cũng chưa bao giờ nghe nói đến điều gì bất thường quanh cái chết của bố cả. Orvar bỗng cảm thấy chùn chân. Bỗng, cậu nghe một tiếng loảng xoảng đâu đó trong nhà vọng ra. Quái lạ! Rõ ràng chú đã đi khỏi Frostmost rồi. Ở nhà cũng chẳng có ai, sao lại nghe tiếng động chứ?

Không cản nổi sự tò mò, Orvar đẩy cửa nhẹ nhàng bước vào. Cậu cẩn thận thắp lên một ngọn đèn và nhìn quanh quất ngôi nhà hẹp, rõ ràng không có bóng người. Cậu nhón gót đến phòng ngủ, rón rén đưa tay đẩy cửa và hí mắt vào trong. Ánh nến xanh yếu ớt cố gắng xé màn đêm nhưng không mấy có tác dụng. Sau khi mắt đã quen dần với bóng tối, Orvar mạnh dạn đẩy cửa vào trong kiểm tra qua một lượt. Trong tủ áo lẫn dưới gầm giường đều không có dấu vết đột nhập. Cậu nhún vai, chắc là gió thổi qua lúc mình mở cửa thôi. Orvar bèn cầm đèn quay trở lại phòng đọc sách.

Trên tường lỉnh kỉnh gắn đầy những loại binh khí kỳ lạ. Orvar nhận ra những cây thương, giáo, chuỳ của Thần Hoả Quốc, và cả lưỡi kiếm kim cương của bọn Cộng Hoà Illuminus. Trên bàn ngổn ngang những quyển sách thần chú mà lần trước cậu đang đọc dở dang. Các Pháp sư chưa Nhập Phái giống như cậu mặc dù cũng được học các phép tấn công nhưng chỉ dừng ở mức độ cơ bản. Những Pháp quân sau khi Nhập Phái sẽ được học các loại thần chú trí mạng, các phép tra tấn đầy bạo lực, thậm chí vô nhân tính. Khi đọc đến những câu chú này, Orvar thấy ghê tởm trong ruột đến mức vội vã rời khỏi đây mà chưa kịp cất quyển sách về chỗ cũ.

Cậu Pháp sư trẻ khệ nệ bưng quyển sách khổng lồ lên kệ rồi nhìn quanh quất một lượt, “Mình nên kiếm gì ở đây nhỉ? Có lẽ là… nhật ký chăng? Không biết chú Ulfrik có ghi chép lại những ngày chiến tranh không nữa.” Cậu thận trọng lướt qua tủ sách. Hầu hết các quyển đã đóng một lớp bụi cực dày. Orvar miết tay qua những cái gáy sách xơ cứng, cố gắng nheo mắt đọc những con chữ đã phai mờ. Sau một hồi nhón chân, gập người, và hắt xì liên tục, Orvar ngồi phịch xuống ghế thở dài quệt nước mũi. Có lẽ chú Ulfrik không ghi chép gì lại rồi.

Ngay lúc đó, ánh mắt Orvar bỗng bị thu hút bởi một bức tượng bằng đồng đặt trên chiếc tủ gần đấy. Cậu lại gần, cúi người ngắm nghía bức tượng bằng đồng đỏ hình người Pháp quân đang giơ cao trượng phép. Gương mặt này, tư thế này, đây chẳng phải là cha sao? Vì sao chú lại giữ tượng của cha trong nhà nhỉ? Bức tượng tinh xảo rất có hồn làm bất kỳ ai nhìn thấy đều say mê ngắm nhìn. Orvar thích thú miết ngón tay dọc theo quyền trượng. Cậu bất giác mỉm cười nhẹ nhàng. Thoạt nhìn cứ nghĩ chú và cha bất hoà, ai ngờ đâu chú lại có lòng kính trọng và ngưỡng mộ đối với Sigurd như thế. Bất thình lình, một cơn đau nhói bỗng cắt đứt dòng suy nghĩ của Orvar. Một đoạn quyền trượng bất ngờ trở nên bén ngót và cắt vào ngón tay cậu một đường sâu hoắm khiến vài giọt máu nhỏ xuống bên chân bức tượng.

Orvar chưa kịp định thần lại thì đã thấy chiếc tủ tự động xoay như một cánh cửa và hé lộ lối đi xuống hầm. Tại sao nhà của chú lại có hầm? Ở Frostmost không một nhà nào xây dựng hầm cả. Orvar chần chừ, không biết có nên xuống thử hay không. Cậu đứng bên mép bậc thang, nhìn thẳng vào khoảng không đen ngòm, u u bên dưới. Sau cùng, cậu vẫn với tay lấy quyền trượng và lẩm nhẩm “Le lói” và chập chững bước xuống.

Ánh sáng yếu ớt trên đầu quyền trượng trông thật thảm hại giữa không gian tối tăm đến nghẹt thở này. Orvar cứ lần mò mà bước xuống, mỗi bước chân chạm đất là mỗi một lần tim nảy lên dữ dội. Hơi lạnh từ những bậc thang đá thấm vào sâu trong đôi giày da gấu, khiến lòng bàn chân cậu tê buốt run rẩy. Cuối cùng, cậu cũng an toàn chạm được đáy hầm. Trái ngược với suy nghĩ của cậu, căn hầm không hề ẩm ướt mà trái lại cực kỳ khô ráo. Đôi khi lại có một làn gió nóng từ đâu thổi tới khiến Orvar căng người vì hồi hộp.

Cậu thận trọng lấy gậy gõ xuống đất. Âm thanh vang vọng như hù doạ. Orvar thất kinh. Không thể nào lại rộng lớn đến vậy. Rõ ràng lúc nãy chỉ đi xuống chưa đến hai mươi bậc thang thôi mà. Cậu liều lĩnh vung quyền trượng, thả chùm sáng bay về phía trước. Vầng sáng hình cầu ngay tức khắc lọt thỏm vào hang động như một con ruồi bị cuốn vào cái họng tham lam của ếch nhái. Không được. Le lói quá yếu để có thể soi sáng chỗ này. Đây là kiểu bóng tối gì mà lại dày đặc đến thế?

Màn đêm bỗng nhiên nhạt dần, lộ ra những vách đá dựng đứng hai bên lòng hang sâu hun hút. Trên các vách đá có những đường vân uốn lượn rất kỳ lạ. Liên tục chạy dọc theo những đường vân đó là một thứ ánh sáng xanh nhạt lạnh lẽo lôi cuốn kẻ hiếu kỳ. Cậu tò mò bước đến thăm dò bức tường bên phải.

Orvar chau mày đưa mắt lần theo những đường vân trên vách tường sừng sững. Đây không phải là vân đá tự nhiên mà là một hình khắc, và đây là một loại ngôn ngữ cổ của người Frostmost. Loại ngôn ngữ này đã thất truyền từ lâu. Các Pháp sư trẻ bây giờ chắc chẳng có ai còn nhớ đến sự tồn tại của nó. Orvar tự hỏi mình đã nhìn thấy kiểu chữ này ở đâu nhỉ. Cậu nhắm nghiền mắt, lục lọi trong ký ức mình chút manh mối. Và rồi Orvar chợt nhớ ra bức phù điêu Cuộc Nội Chiến khắc trên tường Đại Sảnh tháp Đại Hội Đồng. Bức phù điêu tả lại cảnh những Pháp sư thế hệ mới đang đánh đuổi tàn dư Cổ Thuật và cuối cùng đập vỡ bia đá Huyết Thạch. Trên tấm bia đó chính là những câu thần chú tàn độc nhất trong lịch sử pháp thuật Frostmost.

Cổ Thuật đã ngự trị trên Frostmost từ xa xưa. Thời đó các Pháp sư và Phù thuỷ vẫn còn bị ám ảnh bởi những nghi lễ hiến tế đẫm máu, những câu thần chú nguy hiểm và đầy quyền lực có khả năng khống chế không gian thời gian. Thậm chí các Đại Pháp sư lúc bấy giờ còn bí mật nghiên cứu cách thức lừa gạt Tử Thần, nhằm tìm kiếm cuộc sống bất tử đời đời. Họ muốn thu hết của cải và quyền lực vào tay mình nên gây chiến khắp nơi, trong đó kẻ thù ngàn năm của họ chính là lục địa Ironland mà nay là Cộng Hoà Illuminus.

Orvar căng mắt cố gắng nhận diện những ký tự quen thuộc trên vách đá. Tiếc thay, đây là một thứ ngôn ngữ chết. Cho dù có cố cỡ nào thì cậu cũng chỉ nhìn ra được vài từ vô nghĩa, rời rạc. Mỗi phương… Cổ… Cổ Ngọc… Hồi sinh… Orvar lấy tay phủi phủi lớp bụi bám trên hình khắc. Bất ngờ, toàn bộ hang động rung lắc dữ dội, những đường vân sáng rực lên. Cậu vội vã chạy ra xa khỏi vách tường. Nhờ những đường vân loé sáng dữ dội mà giờ đây cậu có thể nhìn rõ mồn một lòng hang. Cậu đang đứng giữa trung tâm bốn bức vách cao chót vót. Mỗi bức đều có khắc Cổ Ngữ và phía trên những dòng chữ xanh lè đó là một ký hiệu tượng hình khác nhau.

Ngay lúc Orvar đang định ghi nhớ bốn ký hiệu này thì một giọng nói ồm ồm cất lên, “Kẻ nào đang ở đây?” Giọng nói vang vọng khắp hang động nhưng cậu tìm mãi vẫn không biết tiếng nói phát ra từ đâu.

Orvar thận trọng trả lời, “Một người nhà Icenstaff.” Cậu đảo mắt liên tục, nắm chặt quyền trượng trong tay, sẵn sàng chống cự bất cứ thứ gì dám lao vào cậu.

“Người nhà Icenstaff? Thảo nào người có thể vào được nơi này.” Giọng nói đều đều, không lộ biểu cảm gì. Cứ nghĩ câu trả lời dè chừng của Orvar đã đủ đánh lừa sinh vật vô hình canh giữ hang động này nhưng bất thình lình, nó hung bạo gầm lên, “Nhưng ngươi không phải là Ulfrik. Ta không thể để người rời khỏi đây được.”

Orvar hoảng hốt vùng chạy về phía cầu thang nhưng mặt đất giữa cậu và những bậc thang đột nhiên giãn dài ra và nứt toát làm đôi để lộ một hố dung nham nóng rực đang ùng ục sôi. Toàn bộ hang động rung lắc như thể muốn hất Orvar xuống cái lòng chảo hừng hực đó. Toàn bộ không gian lúc này nhuộm một màu đỏ chói đầy đe doạ. Được rồi, bình tĩnh nào. Mình có thể thoát khỏi đây mà. Orvar tự trấn an. Cậu hít sâu một hơi, cố gắng giữ cho mình đứng vững và giơ cao quyền trượng, hô to, “Bắc cầu!”

Hàng loạt những hòn đá lớn nghe lệnh cậu từ khắp nơi bay đến, xếp thành một cây cầu thẳng tắp dẫn lối cho Orvar quay trở lại cầu thang. Cậu nhanh chóng nhảy qua từng phiến đá. Không gian rung chuyển dữ dội hơn trước. Orvar trượt chân rơi xuống nhưng cậu kịp thời bám lấy một tảng đá và treo lơ lửng trên miệng nham thạch sôi trào, cánh tay cậu run bần bật vì bất ngờ chịu lực, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương. Đây là lần đầu tiên cậu biết sức nóng của nhanh thạch là như thế nào và nếu không khéo, đây cũng là thứ cuối cùng cậu cảm nhận được. Orvar nhanh chóng chĩa quyền trượng về phía một viên đá và ra lệnh cho nó bay xuống đỡ cậu lên. Ngay khi Orvar đứng vững trở lại trên cây cầu đá thì hang động lại tiếp tục giở chiêu mới. Dòng dung nham nóng rẫy bây giờ không còn gào thét bên dưới khe nứt nữa mà ùn ùn dâng lên, định nuốt chửng Orvar. Hơi nóng rừng rực bốc lên như thiêu như đốt làn da cậu.

Orvar nhìn quanh quất suy tính. Rồi nhanh như cắt, Orvar vung trượng phép, tạo ra một cầu thang bằng băng tuyết ngay trước mặt mình. Cậu vừa chạy vừa nâng cầu thang lên, đến khi cảm thấy đã đạt được độ cao cần thiết, Orvar quét quyền trượng thành hình vòng cung và hô biến băng đá thành một cái cầu tuột trượt thẳng xuống bờ bên kia của khe nứt. Orvar không hề chần chừ do dự. Cậu thủ thế và vững vàng trượt xuống cầu tuột, không quên ra lệnh cho chiếc cầu thang tuyết khổng lồ tan chảy thành nước lạnh, đổ ập xuống dòng dung nham khiến nó đông cứng lại thành những khối nham thạch xám xịt sần sùi bốc khói.

Chỉ trong chốc lát, Orvar đã nhẹ nhàng hạ cánh xuống bờ bên kia và nhanh chóng leo lên cầu thang, thoát khỏi hang động kỳ dị. Ngay khi cậu vừa rời khỏi miệng hầm, chiếc tủ lập tức đóng sầm lại, bức tượng đồng Sigurd tiếp tục uy nghiêm đứng đó như chưa có gì từng xảy ra. Những giọt máu lúc nãy của cậu bị hút vào trong bức tượng dưới sự sửng sốt của Orvar. Vật này không đơn thuần là một bức tượng. Nó là một phong ấn bằng máu. Orvar lòng tràn ngập lo lắng rời khỏi nhà Tổng Pháp quân. Ulfrik, chú giấu cái gì dưới nhà thế này?

Ghi chú

[Lên trên]
Chim Cầu Vồng có bộ lông sặc sỡ, trứng cũng sặc sỡ. Tuy nhiên, vỏ trứng lại cứng như đá nên thường được dùng làm trang sức. Một khi đã rời khỏi tổ, trứng chim sẽ không bao giờ nở được nữa.
Chim Cầu Vồng có bộ lông sặc sỡ, trứng cũng sặc sỡ. Tuy nhiên, vỏ trứng lại cứng như đá nên thường được dùng làm trang sức. Một khi đã rời khỏi tổ, trứng chim sẽ không bao giờ nở được nữa.
Bình luận (0) Facebook
Báo cáo bình luận không phù hợp ở đây

0 Bình luận